BÀI TUYÊN TRUYỀN PHÒNG CHỐNG BỆNH SỞI TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN QUỸ NHẤT
Lượt xem:
Kính thưa các thầy cô giáo, quý cha mẹ cùng các em học sinh thân mến! Bệnh sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút sởi gây ra, thường gặp ở trẻ em và có khả năng lây lan nhanh chóng qua đường hô hấp. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường bùng phát mạnh vào mùa Đông – Xuân. Đây là bệnh có thể gây thành dịch lớn và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Nhà trường xin gửi tới Quý cha mẹ học sinh, giáo viên và học sinh một số thông tin cần thiết để cùng nhau hiểu rõ và chủ động phòng tránh căn bệnh nguy hiểm này.
1. Nguyên nhân gây bệnh:
Bệnh sởi do vi rút sởi thuộc nhóm Paramyxovirus gây nên. Đây là loại vi rút có sức chịu đựng yếu, dễ bị tiêu diệt bởi các thuốc sát khuẩn thông thường, ánh sáng mặt trời…virus sởi tồn tại ở họng và máu bệnh nhân từ cuối thời kì ủ bệnh đến sau khi phát ban một thời gian ngắn. Bệnh rất dễ lây, thường gặp ở trẻ em, gây viêm long ở kết mạc mắt, đường hô hấp, tiêu hoá và các phát ban đặc hiệu. Bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng nặng nề.
2. Đường lây truyền của bệnh sởi:
Người là nguồn bệnh duy nhất, lây trực tiếp qua đường hô hấp. Đặc biệt ở trẻ em chưa có miễn dịch, trẻ em từ 2 – 10 tuổi mắc bệnh nhiều.
3. Triệu chứng của bệnh sởi:
a. Thời kì ủ bệnh: 10 -12 ngày.
b. Thời kì khởi phát:
– Hội chứng nhiễm khuẩn: Sốt 38,5oC – 40oC, nhức đầu, mệt mỏi …
– Hội chứng xuất tiết niêm mạc:
+ Mắt: Kết mạc đỏ, phù mi mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng.
+ Hô hấp: Sổ mũi, hắt hơi, khản tiếng, ho khan, có khi có ít đờm.
+ Tiêu hoá: Nôn, chớ, đi ngoài phân lỏng.
– Có hạt nội bang: Trên nền niêm mạc má đỏ hồng nổi lên những chấm trắng, nhỏ, đường kính khoảng 1mm.
c. Thời kì toàn phát:
– Sốt cao 39oC – 40oC, có thể mê sảng co giật, trẻ ho nhiều, viêm nhiễm và xuất tiết đường hô hấp, chảy nước mắt, có nhiều gỉ mắt.
– Phát ban với đặc điểm:
+ Là ban rát sẩn, màu đỏ, hồng hay tía. Hình tròn hạt hình bầu dục, to bằng hạt đậu, hay cánh bèo tấm, sờ vào mềm, mịn như sờ vào tấm vải nhung, giữa các ban sởi có khoảng da lành.
+ Thứ tự mọc ban:
Ngày thứ nhất: Ban sởi mọc ở chân tóc, sau tai, sau gáy, trán, má đầu, mặt, cổ.
Ngày thứ hai: Ban mọc tới ngực lưng và hai tay.
Ngày thứ ba: Ban mọc xuống bụng và hai chân.
+ Ban sởi tồn tại hai đến ba ngày rồi lặn theo trình tự đã mọc để lại trên da những vết thâm vằn như da hổ da báo. Khi ban lặn các dấu hiệu lâm sàn khác giảm dần.
4. Biến chứng của bệnh:
Virus sởi phá huỷ lớp biểu mô niêm mạc và hệ thống miễn dịch, làm giảm lượng vitamin A, do đó trẻ có nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm khác:
– Bội nhiễm: Viêm phổi, viêm phế quản, viêm thanh quản, viêm tai giữa.
– Thần kinh: Viêm não sau sởi.
– Suy dinh dưỡng do ăn uống kiêng khem.
– Loét miệng: Các vết loét ở trong miệng, môi lưỡi; vết loét có màu đỏ, được phủ một lớp trắng rất đau. Vết loét có thể sâu, rộng làm cho trẻ ăn khó khăn.
– Chảy mủ mắt.
– Mờ giác mạc: Đây là dấu hiệu nguy hiểm có thể do thiếu vitamin A.
5. Xử trí khi trẻ có dấu hiệu nghi mắc Sởi
– Cách ly trẻ bệnh với trẻ lành.
– Đưa trẻ tới cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.
– Cho ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, tăng cường thức ăn giàu vitamin A.
– Cho trẻ uống nhiều nước: Oresol, nước ép quả tươi. Đặc biệt khi trẻ sốt cao, tiêu chảy.
– Vệ sinh răng miệng, vệ sinh thân thể cho trẻ, tăng cường dinh dưỡng cho trẻ để hạn chế biến chứng của Sởi. Không nên kiêng tắm, kiêng gió vì sẽ làm cho bệnh trầm trọng hơn.
6. Các biện pháp phòng bệnh:
– Để phòng chống bệnh sởi, cách tốt nhất là đưa trẻ đi tiêm chủng vắc xin sởi đầy đủ, đúng lịch.
– Phát hiện sớm và cách ly trẻ bị sởi.
– Giáo viên: Duy trì nền nếp vệ sinh môi trường phòng chống dịch bệnh hàng tuần (vệ sinh ngoại cảnh, vệ sinh lớp học, vệ sinh đồ chơi, đồ dùng học tập…); chú trọng việc giáo dục trẻ thực hiện vệ sinh cá nhân hằng ngày.
– Quan tâm tới tình trạng sức khỏe của học sinh khi đến lớp (sốt, mẩn đỏ ngoài da,…), nếu có biểu hiện nhiễm bệnh thì thông báo cho phụ huynh đưa trẻ đi khám, tránh để tiếp xúc với trẻ khác trong lớp để ngăn chặn lây nhiễm chéo.
– Thông tin kịp thời về các trường hợp nghi mắc bệnh dịch cho lãnh đạo nhà trường và báo cáo với cơ sở y tế trên địa bàn để điều tra dịch tễ, xử lý dịch.
Tác giả: Nguyễn Thị Dung (Nhân viên y tế)









